Khái lược LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ CÁC CƠ QUAN TỈNH BẮC GIANG

Thứ ba - 05/05/2020 03:01 496 0
Lịch sử Đảng bộ Các cơ quan tỉnh được gắn liền với lịch sử của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang. Sự ra đời của Đảng bộ Các cơ quan tỉnh đã khẳng định mối quan hệ biện chứng, gắn bó giữa công tác xây dựng Đảng ở các cơ quan cấp tỉnh với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong thực hiện nhiệm vụ chính trị ở các sở, ban, ngành, đoàn thể của Tỉnh.
KHÁI QUÁT LỊCH SỬ ĐẢNG BỘ CÁC CƠ QUAN
TỈNH BẮC GIANG
          Lịch sử Đảng bộ Các cơ quan tỉnh gắn liền với lịch sử của Đảng bộ tỉnh Bắc Giang. Sự ra đời của Đảng bộ Các cơ quan tỉnh đã khẳng định mối quan hệ biện chứng, gắn bó giữa công tác xây dựng Đảng ở các cơ quan cấp tỉnh với sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của các sở, ban, ngành, đoàn thể của Tỉnh.
        Bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, cùng với sự phát triển không ngừng của cách mạng, công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và phát triển đảng viên trên địa bàn tỉnh được đẩy mạnh. Để thuận lợi cho công tác tổ chức và triển khai thực hiện nhiệm vụ của Tỉnh ủy đến các chi bộ cơ quan bảo đảm thống nhất thông qua một đầu mối, phù hợp với bối cảnh các cơ quan phải sơ tán do chiến tranh, tháng 10 năm 1947, Tỉnh ủy đã quyết định thành lập Liên chi bộ các cơ quan Dân - Đảng; đây chính là tiền thân của Đảng bộ Các cơ quan tỉnh Bắc Giang. Đến đầu năm 1948, trước sự hình thành mới một số cơ quan và sự phát triển đảng viên ở các cơ quan thuộc Tỉnh uỷ và Uỷ ban kháng chiến hành chính tỉnh, Tỉnh ủy đã giải thể Liên chi bộ các cơ quan Dân - Đảng, thành lập 2 liên chi bộ mới là Liên chi Thành Công (gồm 15 chi bộ, 141 đảng viên ở các cơ quan thuộc Ủy ban kháng chiến hành chính) và Liên chi Tiến Thắng (gồm 9 chi bộ, 107 đảng viên ở các cơ quan thuộc Tỉnh ủy). Liên chi bộ Tiến Thắng và Liên chi bộ Thành Công đã tập trung lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ: Đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, lãnh đạo kháng chiến toàn dân, toàn diện và phát triển chiến tranh du kích lên một bước mới, chuyển trọng tâm công tác mọi mặt xuống xã và chi bộ với khẩu hiệu:"Tất cả cho xã", "Đi xuống tận chi bộ" " Tất cả vì chi bộ".
            Đến giữa năm 1951, thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III và sự chỉ đạo của Trung ương Đảng về củng cố, kiện toàn, nâng cao chất lượng các tổ chức Đảng, Tỉnh ủy đã quyết định sáp nhập hai liên chi Thành Công và Tiến Thắng thành Liên chi Thống Nhất. Liên chi Thống Nhất hoạt động như tổ chức đảng cấp trên cơ sở, trực thuộc Tỉnh ủy, có chức năng lãnh đạo các mặt công tác xây dựng Đảng, triển khai tới các chi bộ thực hiện chủ trương, nhiệm vụ do Tỉnh ủy đề ra, như: Phát triển kinh tế kháng chiến; phát triển chiến tranh du kích; huy động dân công vận tải lương thực, vũ khí, sửa đường giao thông trong “Chiến dịch trung du”, “Chiến dịch đường 18”, “Chiến dịch Hà Nam Ninh”…
        Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, miền Bắc hoàn toàn giải phóng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, miền Bắc quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội làm hậu phương vững chắc cho nhân dân miền Nam tiếp tục đấu tranh chống đế quốc Mỹ và tay sai. Tỉnh ủy tiến hành củng cố, kiện toàn hệ thống các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể, thành lập thêm một số cơ quan chuyên môn, đồng thời phát triển hệ thống tổ chức Đảng trong các cơ quan cấp tỉnh. Trước sự phát triển cả về tổ chức và đảng viên, sự đa dạng các loại hình chi bộ cơ quan, cần thiết phải thành lập một tổ chức Đảng cấp trên trực tiếp của các chi bộ. Do đó, ngày 4 tháng 4 năm 1955, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Giang đã ra Nghị quyết số 35- NQ/BG về việc đổi tên Liên chi Thống Nhất, thành lập Đảng ủy Dân - Chính - Đảng tỉnh Bắc Giang trực thuộc Tỉnh ủy, hoạt động bắt đầu từ ngày 5 tháng 4 năm 1955. Khi thành lập, Đảng bộ Dân - Chính - Đảng Bắc Giang có 16 chi bộ trực thuộc, 414 đảng viên chính thức, 3 đảng viên dự bị.
Ngay sau khi thành lập, Đảng ủy Dân Chính Đảng đã nhanh chóng đi vào hoạt động, từng bước xây dựng và kiện toàn hệ thống, lãnh đạo thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng trong các thời kỳ.
       Thời kỳ 1955 - 1965, các cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ đã thực hiện tốt công tác giáo dục, động viên, lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng trong các cơ quan tham mưu giúp Tỉnh ủy, Ủy ban hành chính tỉnh tập trung thực hiện nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bước đầu xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965); thực hiện Cuộc vận động “xây dựng cơ sở đảng 4 tốt” theo tinh thần Hội nghị lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III), tháng 4 năm 1961, với 4 nội dung: Lãnh đạo sản xuất và chiến đấu tốt; chấp hành chính sách tốt; chăm lo đời sống và làm công tác vận động quần chúng; làm tốt công tác phát triển Đảng. Các phong trào thi đua trong Đảng bộ được phát động, điển hình là phong trào “Phấn đấu trở thành tổ, đội lao động xã hội chủ nghĩa” trong công nhân viên chức; phong trào “Thi đua 2 tốt” trong ngành giáo dục; Đoàn Thanh niên trong các cơ quan với phong trào xung phong “Tình nguyện vượt kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”
Sau 8 năm hoạt động, thực hiện nghị quyết của Ban Bí thư Trung ương Đảng hợp nhất Đảng bộ tỉnh Bắc Giang và Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh thành Đảng bộ tỉnh Hà Bắc, Tỉnh ủy Hà Bắc ra nghị quyết số 90- NQ/HB hợp nhất hai Ban Đảng ủy các cơ quan Dân - Chính - Đảng tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang thành Ban Đảng ủy cơ quan Dân - Chính - Đảng tỉnh Hà Bắc. Toàn Đảng bộ có 64 chi, đảng bộ cơ sở với 2.437 đảng viên.
           Từ khi sáp nhập hai tỉnh, từ năm 1963 đến năm 1975, trong đó có giai đoạn chiến tranh ác liệt (1965 - 1972), hai lần Đảng bộ Cơ quan Dân - Chính - Đảng phải đi sơ tán, điều kiện hoạt động rất khó khăn, cơ sở vật chất vô cùng thiếu thốn, cán bộ chuyên trách thiếu, địa bàn hoạt động phân tán, địch bắn phá ác liệt. Các cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ không ngừng được củng cố, lãnh đạo thực hiện tốt các nghị quyết của Trung ương, của Tỉnh ủy về chuyển hướng xây dựng kinh tế sang thời chiến “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”. Nhiều phong trào thi đua trong giai đoạn này, như: “Mỗi người làm việc bằng hai, vì đồng bào miền Nam ruột thịt”; phong trào “Ba cải tiến: cải tiến kỹ thuật, lề lối làm việc, tác phong công tác trong phát triển kinh tế quốc doanh”; thi đua xây dựng chi bộ, đảng bộ 4 tốt, đảng viên 4 tốt; Cuộc vận động “Ba xây, ba chống”; phong trào “Ba sẵn sàng” trong thanh niên, “Ba đảm đang” trong phụ nữ. Từ năm 1963 đến 1975, 289 quần chúng ưu tú đã được kết nạp vào Đảng.
         Thời kỳ 1975 - 1985, ngay sau giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc, bước vào thời kỳ xây dựng đất nước, chức năng, nhiệm vụ của Đảng bộ Các cơ quan tỉnh được bổ sung một số nội dung mới, chuyển từ nhiệm vụ vừa sản xuất, vừa chiến đấu sang nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Công tác tổ chức xây dựng Đảng tiếp tục được đổi mới, Đảng ủy đã đặc biệt quan tâm chỉ đạo việc củng cố tổ chức Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, gắn với việc nâng cao chất lượng đảng viên, đưa những đảng viên không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, làm trong sạch đội ngũ của Đảng. Đến năm 1976, chất lượng đội ngũ đảng viên trong toàn Đảng bộ được nâng lên. Số đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ đạt 75%, số đảng viên yếu kém chỉ còn 5%.
        Thực hiện Quyết định số 14- QĐ/TW, ngày 20 tháng 2 năm 1978 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về một số vấn đề về hệ thống tổ chức, chức trách của Đảng bộ cơ quan và Nghị quyết số 21- NQ/TU, ngày 16 tháng 1 năm 1979, của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về việc chuyển giao cơ sở Đảng về nơi cơ quan đóng và giải thể một số đảng bộ trực thuộc Tỉnh ủy. Giữa năm 1979, Đảng ủy Dân – Chính – Đảng giải thể, gần 60 tổ chức cơ sở Đảng với hơn 1.500 đảng viên thuộc Đảng bộ được chuyển giao về Đảng bộ thị xã Bắc Giang trực tiếp quản lý.
          Thời kỳ 1986-1996, Đảng ủy tập trung lãnh đạo thực hiện đường lối đổi mới, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết 04-NQ/TW ngày 29/9/1987 của Bộ Chính trị về “Làm trong sạch và nâng cao sức chiến đấu của tổ chức Đảng và bộ máy Nhà nước, lành mạnh các quan hệ xã hội”. Sau 10 năm chuyển giao các cơ sở đảng từ Đảng bộ khối cơ quan Dân - chính - Đảng về sinh hoạt tại Đảng bộ thị xã Bắc Giang, ngày 29/5/1989 Tỉnh ủy Hà Bắc ban hành 2 Nghị quyết: Nghị quyết 338- NQ/BM-NS và Nghị quyết số 339- NQ/BM-NS về việc thành lập Đảng bộ khối Chính - Dân - Đảng và Đảng bộ khối Kinh tế - Tổng hợp, trực thuộc Tỉnh ủy. Đảng bộ khối Chính - Dân - Đảng có 27 chi, đảng bộ cơ sở, với 852 đảng viên. Đảng bộ khối Kinh tế - Tổng hợp có 22 chi, đảng bộ cơ sở, với 1.023 đảng viên. Qua 3 năm hoạt động, trước yêu cầu của tình hình mới, cần phải sắp xếp, kiện toàn hai Đảng bộ theo hướng hợp lý, tinh gọn, hiệu quả; ngày 01/02/1992 Tỉnh ủy ra Nghị quyết số 67- NQ/TU về việc thành lập Đảng bộ Các cơ quan tỉnh  trên cơ sở hợp nhất Đảng bộ khối Chính - Dân - Đảng và Đảng bộ khối Kinh tế - Tổng hợp, gồm 54 chi bộ, đảng bộ cơ sở, với 1.530 đảng viên ở các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh.
          Tháng 01/1997, tỉnh Bắc Giang được tái lập, ngày 06/01/1997, Tỉnh uỷ Bắc Giang ra Quyết định số 01-QĐ/TU về việc thành lập Đảng bộ Các cơ quan tỉnh Bắc Giang có 59 chi bộ, đảng bộ cơ sở (47 chi bộ, 12 đảng bộ cơ sở), với 1.227 đảng viên.
Thời kỳ 1997-2000, Đảng ủy tập trung lãnh đạo thực hiện Cuộc vận động xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh hằng năm đều tăng, trong đó: năm 1997 có 32 đơn vị, đạt 52%; năm 2000 có 43 đơn vị, đạt 74,1% (tăng 4,1%). Công tác phát triển đảng viên, quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên được tăng cường, số đảng viên đủ tư cách phát huy tác dụng tốt năm 1997 là 1.234 đồng chí, bằng 91,2%, đến năm 2000 là 1.454 đồng chí, bằng 94,6% (tăng 4,6%). Từ năm 1997 đến năm 2000, toàn Đảng bộ kết nạp được 257 đảng viên mới. Bình quân hằng năm có 39% đảng viên và 30% cấp uỷ viên cơ sở được kiểm tra, đã tiến hành kiểm tra 68 đảng viên và 15 chi bộ có dấu hiệu vi phạm.
          Thời kỳ 2001 - 2005, Đảng uỷ Các cơ quan tỉnh tập trung lãnh đạo, chỉ đạo các cấp uỷ, tổ chức đảng tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức lối sống, tổ chức thực hiện Cuộc vận động "Ba xây, ba chống", đã kết nạp được 489 đảng viên mới, toàn Đảng bộ có 64 tổ chức cơ sở đảng (19 đảng bộ, 45 chi bộ, với 2.070 đảng viên, tăng 532 đảng viên so với năm 2000).
Thời kỳ 2005-2010, Đảng bộ tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng Đảng, thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Số tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch, vững mạnh năm 2010 so với năm 2006 tăng 6,1%; số đảng viên đủ tư cách, hoàn thành, hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đạt 99,6% (tăng 4,6%). Công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên được quan tâm cả về số lượng và chất lượng, đã kết nạp được 717 quần chúng ưu tú vào Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng 317 đảng viên.
        Thực hiện chủ trương của Trung ương, ngày 22/7/2009, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ có Quyết định số 737- QĐ/TU về việc thành lập Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh. Theo đó, có 15 chi, đảng bộ cơ sở đã được chuyển giao từ Đảng bộ Các cơ quan tỉnh sang Đảng bộ Khối Doanh nghiệp tỉnh, Đảng bộ Các cơ quan tỉnh còn 56 tổ chức cơ sở đảng (20 đảng bộ và 36 chi bộ), với 2.121 đảng viên.
Thời kỳ 2010-2020, Đảng ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều chương trình, đề án trọng tâm về  đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động của các chi bộ, đảng bộ cơ sở; nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; tăng cường kỷ cương, nền nếp, nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của các chi bộ, đảng bộ cơ sở. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI,XII) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”; chú trọng đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
        Tháng 01/2012, thực hiện Đề án số 02- ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng giai đoạn 2011-2015”, Ban Thường vụ Đảng uỷ Các cơ quan tỉnh đã phối hợp tiếp nhận 27 tổ chức cơ sở đảng ở các cơ quan, đơn vị sự nghiệp của tỉnh và của Trung ương đóng trên địa bàn tỉnh từ các huyện Tân Yên, Lạng Giang, Việt Yên và thành phố Bắc Giang về Đảng bộ Các cơ quan tỉnh. Đến cuối năm 2014, toàn Đảng bộ có 83 tổ chức cơ sở đảng (gồm 33 đảng bộ và 50 chi bộ cơ sở), tăng 27 đơn vị so với năm 2010, với gần 3.700 đảng viên.
        Thực hiện Nghị quyết TW6, khóa XII về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Năm 2018, Đảng ủy Các cơ quan đã xem xét, quyết định giải thể 01 chi bộ và 01 đảng bộ cơ sở để thành lập mới 01 đảng bộ cơ sở. Năm 2019, kiện toàn, sắp xếp 07 tổ chức đảng (sáp nhật 02 chi bộ, tiếp nhận và chuyển giao 03 chi bộ, thành lập mới 02 đảng bộ). Hiện nay, Đảng bộ Các cơ quan tỉnh có 77 tổ chức cơ sở đảng: 41 đảng bộ và 36 chi bộ cơ sở (292 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở), với 4.584 đảng viên.

          65 năm qua, xuất phát từ Chi bộ Liên chi Cơ quan, phát triển thành Đảng bộ Các cơ quan, dù trong điều kiện chiến tranh hay hòa bình, hay sự biến động về mô hình tổ chức (nhiều lần sáp nhập, giải thể, tái lập, đổi tên; điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ), trong bất kỳ hoàn cảnh nào, Đảng bộ đều hoàn thành tốt nhiệm vụ do Tỉnh ủy giao. Các thế hệ cán bộ, đảng viên trong Đảng bộ Các cơ quan tỉnh Bắc Giang luôn tích cực rèn luyện, phấn đấu, đổi mới, sáng tạo, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, đất nước trong các thời kỳ cách mạng, góp phần tô thắm thêm lịch sử vẻ vang của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang.
 
                                                                       
Tác giả bài viết: Nguyễn Thị Phú, Phó Bí thư Đảng ủy CCQ tỉnh.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây